Vai trò của I-ốt đối với sức khỏe

Mục tiêu bài học:

Sau bài học, học sinh nắm được:
  • Vai trò của I-ốt: I-ốt là vi chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể và duy trì thân nhiệt, phát triển xương. Đặc biệt là có vai trò quan trọng trong quá trình biệt hóa, phát triển của não và hệ thần kinh ở thời kỳ bào thai.
  • Tại sao phải sử dụng muối I-ốt hàng ngày
  • Biết cách sử dụng muối I-ốt hàng ngày và tuyên truyền cho mọi người biết sử dụng muối I- ốt hàng ngày để phòng chống bướu cổ, đần độn


I-ốt
là vi chất dinh dưỡng rất cần thiết cho phát triển của cơ thể, cần cho tổng hợp hóc môn tuyến giáp giúp duy trì thân nhiệt, phát triển xương, quá trình biệt hóa, phát triển của não và hệ thần kinh trong thời kỳ bào thai.

Thiếu I-ốt sẽ dẫn đến thiếu hóc môn tuyến giáp và gây ra nhiều rối loạn khác nhau: bướu cổ, thiểu năng trí tuệ, đần độn, cơ thể chậm phát triển, mệt mỏi, giảm khả năng lao động...

Đối với người trưởng thành, nhu cầu khuyến nghị của I-ốt là 150 mcg/ngày, cao nhất ở phụ nữ có thai và cho con bú: 200 mcg/ngày.

Đối với trẻ nhỏ
lứa tuổi 6- 7 tuổi, nhu cầu khuyến nghị là 90 mcg/ngày, tăng hơn ở lứa tuổi 8-14 tuổi: 120 mcg/ngày.

Khi cơ thể bị thiếu I-ốt, tuyến giáp làm việc nhiều hơn để tổng hợp thêm nội tiết tố giáp trạng nên tuyến giáp to lên, gây ra bướu cổ. Bướu cổ là cách thích nghi của cơ thể để bù lại một phần thiếu I-ốt, khi có kích thước to có thể chèn ép đường thở, đường ăn uống gây ra các vấn đề ảnh hưởng cho sức khỏe.

Thiếu I-ốt trong thời kỳ niên thiếu gây ra bướu cổ, chậm phát triển trí tuệ, chậm lớn, nói ngọng, nghễnh ngãng. Trong một số trường hợp nặng, trẻ có thể bị đần độn, liệt cứng hai chân. Trẻ bị thiếu I-ốt không thể đạt kết quả tốt trong học tập.

Thiếu I-ốt ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai có thể gây ra sảy thai tự nhiên, thai chết lưu, đẻ non. Khi thiếu I-ốt nặng trẻ sinh ra có thể bị đần độn vì tổn thương não vĩnh viễn. Trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay hoặc chân, nói ngọng, điếc, câm, mắt lác. Các hậu quả đó sẽ tồn tại vĩnh viễn trong cả cuộc đời, hiện nay y học chưa chữa được.

Thiếu I-ốt ở người lớn gây ra bướu cổ với các biến chứng của như mệt mỏi, không linh hoạt và giảm khả năng lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế, xã hội.

Tất cả các rối loạn do thiếu I-ốt kể cả bệnh đần độn hoàn toàn có thể phòng được bằng cách bổ sung một lượng I-ốt rất nhỏ vào bữa ăn hàng ngày. 

Nguồn cung cấp I-ốt tốt nhất là muối I-ốt. Trong thực phẩm, lượng I-ốt thay đổi tùy theo vùng vì phụ thuộc lượng I-ốt có trong đất, nước. Những thức ăn từ biển (cá, hải sản, cá loại rong, tảo biển) là nguồn thức ăn giàu I-ốt. Nếu ăn cá biển 1 – 2 bữa mỗi tuần thì sẽ đủ cung cấp lượng I-ốt hàng ngày là 150 mcg đủ để phòng thiếu I-ốt trong hoàn cảnh bình thường. Nếu được bổ sung I-ốt trong sản xuất và chăn nuôi thì các loại rau, thịt, trứng, sữa và các sản phẩm từ sữa cũng là nguồn I-ốt đáng kể.

Hai biện pháp chủ yếu đang được áp dụng hiện nay trong phòng chống bệnh là:

  • Sử dụng muối I-ốt hoặc bột canh có trộn I-ốt trong chế biến thức ăn hàng ngày. Hiện nay ở nước ta, chính phủ đã quy định các loại muối ăn đều được tăng cường bổ sung I-ốt.

  • Ở một số vùng có tỷ lệ bướu cổ cao hơn 30% thì dùng dầu I-ốt để hạ nhanh tỷ lệ bướu cổ. Các đối tượng ưu tiên là trẻ em dưới 15 tuổi và phụ nữ từ 15 - 45 tuổi.

Các rối loạn do thiếu I-ốt có thể phòng ngừa được trên cộng đồng nếu hàng ngày chúng ta sử dụng muối trộn I-ốt hoặc bột canh có trộn I-ốt thay cho các loại muối hoặc bột canh thông thường. Tuy nhiên, do thực tế trong gia đình các em ngoài muối ăn còn sử dụng nhiều gia vị mặn khác như bột canh, nước mắm, xì dầu… và các thực phẩm khác có chứa muối nên để phòng bệnh tăng huyết áp cũng chỉ nên tiêu thụ kể cả muối I-ốt, các gia vị mặn khác, thực phẩm chứa muối là không quá 5g một ngày với người trưởng thành, và không quá 4g một ngày với các em trong độ tuổi 6 -11 tuổi.

Cách sử dụng muối I-ốt tại gia đình như thế nào:

  • Muối I-ốt được sử dụng như muối thông thường

  • Cần bảo quản muối I-ốt nơi khô ráo.

  • Bảo quản trong lọ kín có nắp đậy hoặc túi nilon. Dùng xong mỗi lần rửa lọ sạch, phơi khô xong lại dùng tiếp đợt khác hoặc buộc kín túi sau khi sử dụng.

  • Không rang muối I-ốt hoặc để muối I-ốt gần bếp lửa hoặc nguồn nóng.

Muối I-ốt không làm thay đổi mùi vị thức ăn mà hoàn toàn như muối thường. Lượng I-ốt được trộn vào muối an toàn cho cả người không thiếu i-ốt.

Thừa I-ốt:
Nếu lượng I-ốt được cung cấp quá nhiều do cung nhiều hơn cầu hoặc uống thuốc chứa I-ốt  thường xuyên... sẽ gây nên hội chứng cường giáp, hay gặp nhất là bệnh Grave (Basedow), ngoài ra còn có u tuyến độc giáp (Toxic Adenoma), viêm tuyến giáp (Thyroiditis).


Giáo án Tham khảo (Dành cho giáo viên)
Lượt xem : 8822